Tin Tức

Văn hóa Nhật Bản và những điều bạn nên biết

Ngày Đăng : 14/02/2017 - 11:10 AM

Văn hóa của mỗi quốc gia luôn là phần linh hồn của quốc gia đó, nó được xây dựng trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc, vì thế nó giải thích tại sao mỗi đất nước lại có một nền văn hóa khác nhau. Văn hóa Nhật Bản cũng mang những đặc trưng riêng biệt của nó, biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của con người Nhật Bản. Văn hóa Nhật Bản là sự quan tâm lớn của không những là các bạn muốn đến sinh sống và học tập tại Nhật mà nó còn là một chủ để nghiên cứu trong nhiều trường đại học hiện nay. Tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản là câu chuyện của không riêng gì những người yêu mến Nhật Bản mà còn cho ai tò mò khám phá đất nước nghèo tài nguyên nhưng giàu sức mạnh con người, giàu tinh thần võ sĩ đạo này.

 

Trong phạm vi bài viết này chúng ta sẽ không nêu ra những thành tựu cụ thể mà chỉ thông qua những thành tựu mà Nhật Bản đã đạt được để làm rõ xem văn hóa Nhật Bản đóng vai trò như thế nào trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của đất nước này.

 

Văn hóa nhật bản thể hiện trong thời kỳ chiến tranh.

 

Nhật Bản, quốc gia bại trận trong Thế chiến thứ hai, đất nước không những không nhận được những ưu đãi mà còn phải hứng chịu bao nhiêu thảm họa khủng khiếp từ thiên nhiên. Sự tàn phá của chiến tranh, của thiên tai đã làm Nhật Bản nhiều lần phải đối mặt với biết bao khó khăn và thử thách, thế nhưng thực tế chứng minh họ vẫn phát triển không ngừng. Một phần bí ẩn của sự hồi sinh vươn lên không ngờ ấy chính là nền văn hóa Nhật Bản, yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh, một động lực quan trọng thúc đẩy mọi bước đi của Nhật Bản. Hãy cùng tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản để hiểu vì sao người Nhật có thể tạo nên sự đoàn kết, uy tín và sức mạnh phi thường đến khó tin.

 

Vấn đề giai cấp trong xã hội ảnh hưởng tới văn hóa nhật bản.

 

Một sự khác biệt rất lớn trong văn hóa Nhật Bản củng chính bởi sự phân hóa giai cấp trong xã hội. Quý tộc, võ sĩ và nông dân, thợ thủ công là ba tầng lớp chính trong xã hội Nhật Bản. Có thể đó cũng là nguyên nhân làm cho tư tưởng của đạo võ ăn sâu và thấm nhuần trong lối suy nghĩ của người Nhật khi mà võ sĩ trở thành một bộ phận chính trong xã hội. Sức mạnh tinh thần xuất phát từ nền văn hóa Nhật Bản đã tạo nên một nguồn nội lực vô tận cho toàn dân tộc Nhật chống chọi với bao khốc liệt và vươn lên không ngừng.

 

Văn hóa Nhật Bản đặc trưng bởi tinh thần võ sĩ đạo.

 

Giáo lý của võ đạo học trong văn hóa Nhật Bản rèn luyện cho con người những đức tính quan trọng và căn bản nhất mà người võ sĩ phải rèn luyện. Đó là tính ngay thẳng, trung thực và dũng cảm. Những đức tính này trong văn hóa Nhật Bản đặc trưng bởi hình ảnh những người võ sĩ chiến đấu không ngừng ngại, biết lúc nào cần phải sống, khi nào cần phải chết, sẵn sàng xông pha và xả thân mình trong mọi hòan cảnh. Đó là sự chân thành, nhân từ và đức lễ phép. Chân thành đi kèm với lễ phép, bởi sự tôn trọng chỉ khi xuất phát một cách chân thực mới có giá trị với người đối diện. Điều này không chỉ riêng văn hóa Nhật Bản mà nó còn là điểm chung của văn hóa phương Đông. Nếu dũng cảm, ngay thẳng tạo nên sự mạnh mẽ, công bằng trong khí phách người nam nhi thì chân thành và nhân từ gợi lên sự mềm mại từ sức mạnh của nữ giới. Ngay thẳng quá, mạnh mẽ quá thì có thể làm con người trở nên thô bạo, nhưng nhân hậu quá cũng có thể tạo nên sự nhu nhược; có lẽ vì thế mà đạo giáo võ học trong văn hóa Nhật Bản đã rèn luyện cả hai cho người võ sĩ. Đó còn là khả năng tự kiểm soát mình và coi trọng danh dự. Ý thức sâu sắc về thanh danh mình là một động lực thúc đẩy con người tiến lên và bảo vệ giá trị của bản thân. Võ học đòi hỏi người võ sĩ phải biết kiềm chế cảm xúc và suy nghĩ của mình, không được biểu hiện ra ngoài dù là vui mừng hay giận dỗi. Có thể đó cũng là một nét làm nên sự bí ẩn của con người của con người Nhật, điểm đặc biệt của văn hóa Nhật Bản.

 

Yếu tố tôn giáo trong văn hóa nhật bản

 

Trong văn hóa Nhật Bản, tôn giáo đóng vai trò làm động lực quan trọng thúc đẩy sức mạnh bên trong con người. Yếu tố tâm linh không được sử dụng một cách mê tín, mù quáng mà được người Nhật khai thác để phục vụ cho quá trình phát triển con người, có giá trị tinh thần, phục vụ cuộc sống, tạo nên những đặc trưng khác biệt cho văn hóa Nhật Bản. Cái vẻ bí ẩn của người Nhật được bắt nguồn từ ý chí, sự nỗ lực nuôi dưỡng đam mê, theo đuổi mục đích của mình. Và trong hoàn cảnh điều kiện cần thiết sức mạnh nội sinh ấy sẽ bùng lên mạnh mẽ, đốt cháy mọi trở ngại trên đường đi của họ, tỏa ra thành những thành tựu vật chất vĩ đại.

 

Văn hóa Nhật Bản - Nền văn hóa ít sự pha trộn.

 

Củng có không ít những ý kiến cho rằng do nước Nhật có một truyền thông phát triển lâu dài, không bị xam lược tính cho tới thời điểm năm 1945 nên rất ít bị pha trộn ép buộc mà thay vào đó là một sự du nhập hợp lý của các luồng văn hóa cũng như tôn giáo vào đất nước này và sau đó chính họ đã tạo nên cái riêng, cái sâu xa trong văn hóa Nhật Bản. Có thể nói văn hóa Nhật Bản là nền văn hóa giàu bản sắc dân tộc.

 

Không thể nói một cách đơn thuần rằng văn hóa Nhật Bản hoàn toàn là sự phát triển riêng của nước Nhật, mà ở đây nó là sự kết hợp thông minh, một sự phát triển biến những cái gì tiên tiến hiện đại thành cái của mình và từ đó chuyển hóa nó thành những thành công của riêng họ.

Qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển, tuy chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và phương Tây, nhưng người Nhật cũng đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa Nhật Bản đặc trưng với nhiều nét độc đáo riêng. Một Nhật Bản hiện đại đang vươn lên với sức mạnh nội sinh phi thường dù phải gánh chịu bao nhiêu khắc nghiệt từ thiên nhiên. Tìm hiểu văn hóa Nhật Bản để thấy rằng văn hóa Nhật Bản là đại diện tiêu biểu cho một nền văn hóa cân đối, hài hòa, phong phú và phát triển về nhiều mặt. Và đó cũng là lý giải cho sự vươn lên thần kỳ của một Nhật Bản hôm nay.

 

Văn hóa Nhật Bản

Người nhảy múa theo kiểu Nhật cổ

 

Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Sắc dân nước ngoài đông nhất là Triều Tiên nhưng nhiều người Triều Tiên sinh trưởng tại Nhật Bản đã nói tiếng Nhật không khác gì người Nhật Bản cả. Sắc dân này trước kia bị kỳ thị tại nơi làm việc và tại một số phương diện trong đời sống hàng ngày. Sắc dân ngoại quốc thứ hai là người Trung Hoa rồi về sau còn có một số dân lao động gồm người Philippines và người Thái.


Theo Bộ Nội Vụ của Nhật Bản, dân số Nhật Bản vào cuối năm 2000 là 126.434.470 người, đứng hàng thứ bảy sau Trung Quốc, Ấn Độ,Hoa Kỳ, Indonesia, Brasil và Nga. Mức gia tăng dân số lên tối đa vào năm 1974 với tỉ lệ sinh 1,27%, đã giảm xuống còn 0,35% vào năm1992. Tuy thế, Nhật Bản vẫn có thể có dân số lên tới 129,5 triệu người vào năm 2010 rồi sau đó mới giảm bớt.

Do dân số đông, mật độ dân số của Nhật Bản lên tới 327 người/km², ngang hàng với các nước có mật độ cao như Bỉ, Hà Lan và Triều Tiên. Khoảng 49% dân Nhật tập trung quanh ba đô thị lớn là Tokyo, Osaka và Nagoya cùng với các thành phố phụ cận. Tokyo vẫn là nơi đông dân nhất, với khoảng 1/3 tổng dân số. Lý do của sự tập trung này là vì Tokyo là trung tâm của khu vực dịch vụ. Vào năm 1991, Nhật Bản có 13% dân số trên 65 tuổi, con số này thấp hơn so với của Thụy Điển là 18% và Anh là 15%. Tuổi thọ trung bình tại Nhật Bản là 81 đối với phụ nữ và 75 với nam giới.

 

Bữa ăn sáng truyền thống của người Nhật

 

Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa... trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990.


Các phát triển nhanh chóng về kinh tế, kỹ thuật và đô thị cũng làm gia tăng loại gia đình hạt nhân chỉ gồm cha mẹ và các con, khiến cho loại đại gia đình giảm từ 44% vào năm 1955 xuống còn 13,7% vào năm 1991. Số người con trong gia đình cũng giảm từ 4,7 vào năm 1947 xuống còn 1,5 vào năm 1991 vì việc làm nơi thành phố và do cuộc sống trong các căn nhà chung cư chỉ thích hợp với loại gia đình trung bình là 2,9 người.


Cùng với sự thay đổi về số người trong gia đình, nếp sống hiện nay của người Nhật Bản khác ngày trước do việc dùng các máy móc gia dụng, do sự phổ biến các loại thực phẩm ăn liền và đông lạnh, các loại quần áo may sẵn và các phương tiện hàng ngày khác. Những tiện nghi này đã giải phóng người phụ nữ khỏi các ràng buộc về gia chánh, cho phép mọi người có dư thời giờ tham gia vào các hoạt động giải trí, giáo dục và văn hóa. Các tiến bộ về công bằng xã hội cũng làm mất đi tính kỳ thị về giai cấp, về quá trình gia đình, và đại đa số người Nhật Bản thuộc giai cấp trung lưu, căn cứ vào lợi tức của họ.


Ngày nay mặc dù Nhật Bản đã là một quốc gia tân tiến nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các liên hệ nam nữ đã được ấn định rõ ràng. Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn hơn nam giới. Từ khi thời kỳ samuraiphát triển, người đàn ông lại chiếm vai trò độc tôn. Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 nhưng hiện nay trong đời sống công cộng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên ngoài xã hội, người nam vẫn giữ vai trò lớn hơn một chút. Theo căn bản, người nữ vẫn là người của "bên trong" (uchi no) và người nam vẫn là người của "bên ngoài" (soto no). Phạm vi của người phụ nữ là gia đình và các công việc liên hệ, trong khi người chồng là người đi kiếm sống và đưa hết tiền lương về cho người vợ. Thời xưa, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường bị nam giới coi như "có khuyết điểm nào đó". Nhưng nay Nhật Bản lại là nước có phụ nữ lấy chồng rất muộn, thậm chí là sống độc thân mà không có chồng (Nhật Bản hiện nay là nước có phụ nữ lấy chồng rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á. Tại các công ty, nhà máy, cửa hàng... người phụ nữ thường được thuê mướn để chào đón các khách mới đến. Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ - những người thường không có quan niêm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ.
Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp. Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống (ojigi) và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người. Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng. Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp. Mỗi lần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay là một cử chỉ lễ độ. Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó. Trong việc giao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn. Cũng như đối với nhiều người châu Á khác, người ngoại quốc tới Nhật Bản cần phải bình tĩnh trước mọi điều không vừa ý, không nên nổi giận và luôn luôn nên nở nụ cười.

 

 Ẩm thực Nhật Bản

 

Không chỉ là một trong những quốc gia có nhiều món ngon nhất thế giới, ẩm thực Nhật Bản còn chứa đựng nét văn hóa đặc sắc của đất nước này, thể hiện qua các nghi lễ như giã bánh mochi, cách ăn sushi, làm bánh wagashi…

 

 Cảnh quan đậm chất thiền

 

Ở Nhật Bản có rất nhiều cảnh quan, công trình mang đậm chất thiền, mang lại cho bạn sự thanh thản trong tâm hồn như các đền, chùa, vườn Nhật Bản…

 

Nếu nói đến nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của Nhật Bản, hẳn chúng ta không thể bỏ qua sushi, một món ăn kết hợp cơm với hải sản sống hoặc chín, sử dụng phương pháp bảo quản cá bắt nguồn từ Trung Hoa cổ. Hãy cùng Genk tìm hiểu những thông tin về món ăn đa dạng về hương vị cũng như những cách khéo léo bày trí khiến người thưởng thức không thể cưỡng lại.

 

Lịch sử và nguồn gốc

 

Dựa vào lợi thế vị trí địa lí nằm xoải theo bên sườn phía đông lục địa Châu Á, có đường bờ biển kéo dài khoảng 29750km bao gồm nhiểu vũng, vịnh, biển có nhiều ngư trường lớn vì vậy nguồn hải sản tự nhiên ở đất nước Nhật Bản vô cùng lớn. Mặc dù hàng ngày ngư dân có thể đánh bắt được rất nhiều cá nhưng ngày xưa công nghệ chưa phát triển, để bảo quản cá con người chỉ có cách phơi khô hoặc chế biến thành món ăn có khả năng tích trữ trong thời gian dài. Người Nhật đã khéo léo dựa trên cách thức của người Trung Hoa cổ, cá sẽ được ướp muối bọc trong cơm để lên men tự nhiên trong khoảng từ 2 tháng đến 1 năm. Đến thời điểm ướp xong, người ta sẽ chỉ dùng cá muối còn phần cơm sẽ được loại bỏ. Sau này, ngoài việc phát triển các phương pháp lên men và tẩm ướp khác nhau, người Nhật đã trực tiếp sử dụng cá sống, thưởng thức với các gia vị chế biến bổ trợ để tạo nên độ tươi, hương vị nguyên chất, và cảm nhận hết cái ngon của các loại hải sản giàu protein này. Sushi chính là một kiệt tác thành công trong cách chế biến ẩm thực của người Nhật Bản.

 

Sự phát triển của sushi

 

Tuy nhiên, sự phát triển của sushi không phải nghiễm nhiên trở nên phổ biến và thành biểu tượng văn hóa ẩm thực của đất nước hoa anh đào như bây giờ. Vào khoảng đầu thế kỉ thứ 19, hệ thống các cửa hàng dịch vụ đồ ăn nhanh chiếm lĩnh trong thị trường ngàng công nghiệp ăn uống. Người Nhật luôn sống trong vòng xoáy hối hả của cuộc sống, dường như họ không có bất kì khoảng thời gian dư giả dành cho việc ăn uống, Vì vậy, điều kiện thiết yếu của các món ăn thời đại này phải đặt tiêu chí nhanh, chất lượng lên hàng đầu. Bếp trưởngYohei Hanaya một bậc kì tài sáng tạo đã chế biến sushi với những nắm cơm nhỏ kết hợp với nguyên liệu hải sản sống, hoặc cuốn cơm trộn với rau củ quá, hải sản trong là rong biển, cắt từng khoang đựng vào các hộp nhỏ rất tiện lợi.Từ đó, rất nhiều người đã chọn sushi cho bữa ăn của mình bởi nó đầy đủ chất dinh dưỡng, không béo phì như các đồ ăn nhanh của phương tây.

 

Sự hấp dẫn của sushi

 

Để làm đươc một đĩa sushi đúng vị và đúng nghĩa không phải là một điều dễ dàng, đòi khỏi rất nhiều khâu chế biến. Nước dùng để nấu cơm phải là nước tinh khiết như vậy chúng ta mới có được những hạt cơm dẻo, thơm mùi gạo, không bị nát, độ mềm vừa phải tạo sự kết dính. Nguyên liệu hải sản phải tươi, nhất là lúc vừa bắt, như vậy độ ngậy và hương vị khi thưởng thức sẽ nguyên chất, không pha tạp. Một điều đặc biệt, người dân Nhật Bản thường chọn các loại hải sản được đánh bắt tại các vùng duyên hải, bởi lẽ cá ở đây vô cùng ngon và đậm chất dinh dưỡng. Khi tiến hành công việc chế biến, để món ăn giữ được độ tinh khiết và vị ngon, các đầu bếp thường sử dụng các dụng cụ làm bằng gỗ bởi chất chua trong gạo khi trộn cơm với dấm sẽ phản ứng nếu như dùng bằng chất liệu bằng kim loại. Ngoài ra, họ còn sáng tạo trong cách trang trí tỉa hoa quả, nắm cơm theo hình thù nghệ thuật, kết hợp màu làm từ nguyên liệu tự nhiên để món ăn thêm màu sắc và đa dạng hương vị.

 

Các loại sushi

 

Trong thực đơn sushi của người Nhật bản, có 6 loại cơ bản gồm Nigirizushi, Chirashizushi, Makimono, Gunkan, Oshizushi, và Temaki.

Nigirizushi: là loại cơm nắm trộn dấm, bên trên đặt một miếng hải sản có thể là cá hồi, cá ngừ hoặc các loại hải sản khác và



Các tin khác

iconhotro
hotroimg
0935 100 583 - Anh Giàu